Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2007

TO CHUC DU KHAO

Du khảo đã xuất hiện rất sớm vào cuối những năm 1980 với những chuyến đi ít ngày। Đến sau năm 1990, trong phong trào thanh niên Tp। Hồ Chí Minh bắt đầu có những chuyến đi dài ngày như: Hành trình về quê Bác, Hành trình dọc đường mòn Hồ Chí Minh, Hành trình về Pắc Pó, Hành trình về Điện Biên Phủ… Ngày nay loại hình này được hưởng ứng mạnh mẽ trong phong trào thanh thiếu niên cả nước।
Du khảo là những chuyến đi làm giàu kiến thức cho các thành viên về mọi mặt lịch sử, văn hóa, truyền thống, cộng đồng, thiên nhiên. Du khảo còn rèn luyện ý chí, tính chịu đựng, mở rộng quan hệ bè bạn…, từ đó tạo cho mọi người lòng tự tin vào giá trị cuộc sống, hiểu và yêu quê hương đất nước tăng cường lòng tự hào dân tộc, góp phần hoàn thiện nhân cách chính mình.
Phần I: Thiết kế chuyến du khảo
A. Công việc chuẩn bị:
1. Lý do để tổ chức:
Các chuyến du khảo thường ra đời bởi các lý do sau:
- Đáp ứng nhu cầu của thanh niên, các thành viên tham gia (có lúc nhu cầu này có sẵn, hoặc có lúc phải được Ban tổ chức khơi lên thông qua giới thiệu địa điểm, các hình thức sinh hoạt vui chơi khác mà người tham gia cảm thấy hấp dẫn).
- Tổ chức du khảo nhân dịp các ngày lễ, kỷ niệm.
- Tập hợp và giáo dục thanh niên, góp phần tạo sân chơi lành mạnh.
2. Mục đích tổ chức:
· Làm giàu kiến thức cho người tham gia về nhiều lĩnh vực, rèn luyện phong cách sống tập thể.
· Góp thêm loại hình của tổ chức Đoàn – Đội – Hội trong thực hiện chương trình về nguồn, khỏe vì nước.
· Mở rộng mối quan hệ của đơn vị mình với các nơi, thực hiện tốt nhiệm vụ đoàn kết và tập hợp thanh niên.
3. Nội dung chuyến đi:
Nội dung chính có từ phương châm của loại hình du khảo: “Văn hóa, truyền thống, cộng đồng, thiên nhiên”. Thí dụ:
J Văn hóa: Đoàn cần tạo điều kiện gì để các thành viên trong đoàn mở rộng thêm hiểu biết về phong tục tập quán nơi đến, danh lam thắng cảnh của đất nước, đời sống, mức sống của người dân…
J Truyền thống: Đoàn làm gì, đến đâu để các thành viên trong đoàn hiểu thêm các giá trị truyền thống của dân tộc (đền, chùa, miếu, đình…), các di tích cách mạng (nghĩa trang Trường Sơn, Pắc Pó, Điện Biên…).
J Cộng đồng: Đoàn cần thường xuyên tổ chức, giao lưu, tọa đàm, sinh hoạt vòng tròn, lửa trại… giúp các thành viên thỏa mãn nhu cầu giao lưu, đồng thời giúp họ tự tìm hiểu thêm các nội dung khác.
J Thiên nhiên: đoàn cần đưa các thành viên của mình có dịp trở lại gắn bó hòa mình với thiên nhiên bằng nhiều hình thức: ngủ trong rừng, tham quan rừng, xem một buổi ra đồng của nông dân, bơi thuyền trên sông…, từ đấy khơi gợi lên lòng yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, có trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Ngoài ra, để hiểu rõ và sâu hơn các nội dung trên cần có nhiều nội dung kèm theo sau du khảo như: thi đố về các nơi đã đến, viết bài khảo sát, thi kể chuyện, thi thiết kế chương trình giao lưu, thi ảnh phóng sự, thi guiness về đèo, đò, sông, chợ, phong tục tập quán… giữa các cá nhân và các tổ nhóm trong đoàn.
4. Địa điểm:
Du khảo thường qua rất nhiều địa điểm nên khi chọn nơi trú đóng sau một chặng đường dài, cần ưu tiên chọn các địa điểm sau:
- Có khu di tích nổi tiếng (đền, chùa…).
- Có danh lam thắng cảnh đẹp (sông, hồ, núi).
- Có những công trình mới có sức thu hút cao (nhà máy thủy điện, đập thủy lợi…).
- Có những sinh hoạt văn hóa đặc sắc (chợ tình Sapa, chợ Phiên dân tộc thiểu số)
Ngoài ra cần lưu ý xem xét:
· Địa điểm có đảm bảo an ninh không?
· Có thuận tiện cho việc bố trí ăn ở, nghỉ cho cả đoàn không?.
· Giá cả sinh hoạt, thời tiết như thế nào?
· Phong tục tập quán địa phương ra sao?
· Công tác tổ chức giao lưu cần chuẩn bị gì?
· Vật dụng lưu niệm…
5. Thời gian:
Thời gian chính thức của đợt du khảo bắt đầu từ lúc đi đến lúc kết thúc. Tuy nhiên đối với người tổ chức phải dự trù cả thời gian trước và sau chuyến đí. Hoạt động của chuyến đi thường tổ chức theo nguyên tắc:
- Thời gian nhiều → không gian rộng → cường độ hoạt động chậm.
- Thời gian ít → không gian hẹp → cường độ hoạt động cao.
Lưu ý: nên bố trí có thời gian dự phòng, thời gian đủ cho tham quan những nơi cần thiết, thời gian giao lưu, thời gian cho các hoạt động cá nhân (đi chợ, chụp ảnh, sưu tầm vật lưu niệm…).
6. Phương tiện:
J Di chuyển: trong các chuyến du khảo, phương tiện di chuyển phần lớn là xe đạp, tuy nhiên di chuyển vẫn đa dạng: xe lửa, xe đò, tàu… Vì xe đạp là chủ yếu cho nên chuẩn bị kỹ cho xe đạp đảm bảo độ bền cho cả chuyến đi là điều hết sức hệ trọng (mỗi xe phải có đủ các phụ tùng để thay: xích, líp, bi, côn, căm, bố, thắng… và các vật dụng để sửa chữa nhỏ).
J Ăn: phần lớn là tự ăn ở quán, trừ khi đi đường không có quán phải sử dụng lương khô.
J Ở: nhà dân, các cơ sở Đoàn, trường học… và võng cá nhân (thường xuyên).
J Vật dụng khác:
· Cá nhân: tiền (chỉ mang đủ để sinh hoạt), áo, quần, nón… (vừa đủ để thay đổi), xe đạp và các vật dụng sửa chữa, gày, vớ, võng, tăng, áo mưa, đèn pin, bản đồ, giấy viết, bình nước, thuốc uống, kem, xà bông, đường, sữa, mì gói (dự phòng dây dù, cờ hiệu, giấy tờ tùy thân…).
· Tập thể: quà lưu niệm nơi đến, máy ảnh, cờ đoàn đi, tài liệu, thuốc uống, vật dụng sửa chữa xe, kinh phí tổ chức…
Lưu ý: Phân công cụ thể việc mang các vật dụng trên cho tổ trực, cá nhân đoàn.
7. Nhân sự:
Tùy qui mô chuyến đi có thể lập Ban tổ chức, Ban chỉ huy để lãnh đạo đoàn đi.
Ban tổ chức, Ban chỉ huy có nhiệm vụ:
· Xin phép để được tổ chức chuyến đi.
· Lập kế hoạch chuyến đi.
· Gởi kế hoạch đến các địa phương xin phép hoặc xin hỗ trợ.
· Tuyên truyền rộng rãi mục đích ý nghĩa chuyến đi.
· Vận động tài trợ.
· Mời gọi mọi người tham gia.
· Điều hành tốt chuyến đi.
Những thành viên trong Ban tổ chức, Ban chỉ huy phải có những phẩm chất sau đây:
· Nhiệt tình, yêu thích loại hình hoạt động khu khảo.
· Có nhiều kinh nghiệm trong tổ chức du khảo, am hiểu công việc sắp làm, có đủ sức và uy tín để điều hành công việc.
· Có năng khiếu trong tổ chức các hoạt động tập thể.
Nhân sự tham gia:
· Nên có qui định về tuổi, sức khỏe.
· Nên có ưu tiên cho người biết sinh hoạt tập thể, đặc biệt là kỹ năng đạp xe.
· Số lượng phải hài hòa về nam, nữ, trẻ, già.
· Có sự cam đoan hoặc bảo lãnh của gia đình (nếu cần).
· Có sự khống chế số lượng (nếu ít ngày thì số lượng có thể nhiều, dài ngày thì số lượng nên ít, nếu cần).
Biên chế tổ, nhóm:
· Khi biên chế tổ, nhóm nên lưu ý đến các đặc điểm:
· Tính hài hòa nam, nữ, trẻ già trong tổ, nhóm.
· Năng khiếu hoạt động từng nhóm (sẽ có thi đua giữa các nhóm).
· Tính hài hòa người cũ, mới, người có kinh nghiệm du khảo, người ít kinh nghiệm.
· Người am hiểu công việc điều hành, ngoại giao, biết sửa chữa xe,…
· Các trưởng nhóm, tổ phải là thành viên trong Ban chỉ huy để dễ điều hành trong công việc.
Ngoài ra, nếu có điều kiện có thể lập thêm một số nhóm nhỏ: văn nghệ, thể thao, y tế, sửa xe, nhiếp ảnh, tuyên truyền, ghi chép, sưu tầm, guiness, có chế độ bồi dưỡng và tạo điều kiện để các nhóm hoạt động. Ban tổ chức, Ban chỉ huy sẽ phân công cụ thể các phần việc cho nội bộ Ban tổ chức, Ban chỉ huy, các nhóm trước, trong và sau chuyến đi.
Thí dụ: Ban tuyên truyền:
- Trước chuyến đi: Thông tin với báo đài, các nơi có liên quan về chuyến đi; dự kiến quần áo mặc, phù hiệu, cờ, tài liệu bướm, bài hát…; quảng cáo (nếu có)…
- Trong chuyến đi: Lễ xuất phát (làm gì, ở đâu, mời ai…); liên lạc nơi đến…; nội dung, hình thức tuyên truyền cho đoàn trong lúc đi, các buổi giao lưu.
- Sau chuyến đi: Lễ đón đoàn về; triển lãm (ảnh, hiện vật); họp mặt lại sau khi về; tổ chức báo cáo lại chuyến đi; kết tập các thành viên lại lập đội nhóm mới.
8. Tài chánh:
Tài chánh các chuyến đi thường do: Cá nhân đóng góp + tài trợ các đơn vị + hợp đồng quảng cáo + ủng hộ của địa phương nơi đến.
Lưu ý: Có kinh phí dự phòng để đề phòng phải xử lý tai nạn dọc đường, khen thuởng đột xuất…
B. Soạn kế hoạch:
1. Viết kế hoạch:
- Mục đích, ý nghĩa chuyến đi.
- Nội dung của chuyến đi (giải thích rõ đi để làm gì? Vì sao đi?...).
- Đối tượng tham gia: tổng số thành viên là bao nhiêu, độ tuổi, nam, nữ, sức khỏe loại gì? Có cần gia đình bảo lãnh hay không? Nơi cư trú…?
- Thời gian: bắt đầu từ ngày nào đến ngày nào? Thời gian đăng ký? Hết hạn?...
- Phương tiện: các loại phương tiện di chuyển. Vật dụng cần mang theo của cá nhân.
- Địa điểm: nêu địa điểm chính cần đến (đích đến).
- Tài chánh: khả năng đóng góp cá nhân (số tối đa).
- Ban tổ chức, Ban chỉ huy: (công bố cụ thể.
2. Chương trình:
- Lên chương trình chi tiết: Mẫu
Thời gian
Công việc
Khoảng cách
Người phụ trách
Ghi chú
Ngày thứ …
Sáng 5g30
Chiều …
Tối …
Xuất phát đi
từ A → B

12 km
Tổ trực
Trực chỉ huy
Trên đường đi có gì chướng ngại, chợ, sông…
- Soạn nội qui: cần ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện. Nếu có điều kiện nên cho các thành viên thào luận để hiểu kỹ hơn ý định của Ban tổ chức.
- Ra thông báo mời gọi: Nhờ phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức Đoàn – Hội – Đội thông báo về chuyến đi, trong thông báo cần nêu: nêu sơ nét về chuyến đi: mục đích, nội dung, thời gian, địa điểm…; cách thức đăng ký (ở đâu, ai nhận? tiền đóng, hạn chót đăng ký…); số lượng tham gia.
- Tiến độ thự hiện công việc:
· Họp Ban tổ chức lần I, II, III.
· Chốt danh sách.
· Kiểm tra chuẩn bị: tuyên truyền, tài trợ, xin phép… (trên cơ sở đã phân công).
· Kiểm tra chuẩn bị các thành viên (xe, tiền và các vật dụng khác).
Phần II: Điều hành chuyến đi
A. Trước chuyến đi:
1. Tổ chức họp mặt:
Trước khi tiến hành chuyến du khảo cần tổ chức họp mặt toàn đoàn triển khai một số nội dung sau:
- Nắm chắc lại lực lượng tham gia, lên danh sách, địa chỉ liên hệ…
- Phân chia tổ để sinh hoạt làm quen.
- Thông qua kế hoạch, nội dung, chương trình, nội qui để các thành viên nắm bắt, tổ chức, thảo luận, giải đáp thắc mắc (nếu có).
- Phát hiện “tài năng” mới bổ sung cho các ban hoạt động của đoàn đi.
- Tập các bài hát qui định, tập văn nghệ…
- Có thể tổ chức đ một vài nơi gần để gắn kết các thành viên lại.
2. Ra mắt Ban tổ chức, Ban chỉ huy:
- Ra mắt BTC, BCH đoàn đi.
- BTC, BCH báo cáo tóm tắt diễn biến chuyến đi.
- BTC, BCH có thể mời người am hiểu về địa phương dự định đến để nói rõ thêm tình hình sắp tới.
- Động viên tinh thần người tham gia.
- Gởi kế hoạch đi các nơi có liên quan, các địa phương đoàn đến xin hỗ trợ nơi ở…
3. Kiểm tra lần chót:
- Kiểm tra số lượng, chốt danh sách…
- Kiểm tra lại trang bị vật dụng, xe…
- Kiềm tra sức khỏe, tài chánh…
B. Trong chuyến đi:
1. Bám sát chương trình chi tiết để thực hiện (cố gắng tránh thay đổi nhiều). Phân công công việc rõ ràng cho tổ trực, trực chỉ huy.
2. Mỗi ngày điều có rút kinh nghiệm, nhắc nhở việc chấp hành nội qui, giờ giấc sinh hoạt (có chế độ động viên khen thưởng đúng người, đúng việc).
3. Ban chỉ huy luôn gương mẫu trong mọi hoạt động, phải là hạt nhân đoàn kết từ đó thu hút hoạt động của các thành viên trong đoàn.
4. Thực hiện thông suốt chế độ thông tin giữa đoàn – địa phương nơi đến; đoàn với Ban tổ chức ở nhà.
C. Sau chuyến đi
- Tổ chức long trọng lễ đón đoàn về (Ban tổ chức ở nhà).
- Chọn ngày (5 – 7 ngày sau) làm lễ báo cáo lại kết quả chuyến đi, có kết hợp triển lãm tranh, ảnh vật lưu niệm, sổ nhật ký hành trình…
- Tổ chức đi nói chuyện các nơi (nếu có yêu cầu).
- Mời gọi các thành viên tham gia đội nhóm mới xin địa chỉ, công bố ngày họp mặt lần sau (có thể lập ngày truyền thống của đoàn).
- Quyết toán chi phí, hợp đồng…
- Phát hành thư cảm ơn đến các đơn vị tài trợ, báo đài, các địa phương, cá nhân giúp đỡ đoàn.
- Rút kinh nghiệm toàn bộ chuyến đi.

KI NANG TONG PHU TRACH

I. Phân loại và nhận định:
+ Loại bài hát suông: Trong một số nghi thức như câu chuyện dưới cờ, câu chuyện tàn lửa ở đất trại, Linh hoạt viên yêu cầu mọi người đứng nghiêm trang, hướng dẫn vài lời đưa vào chủ đề, mời hát chậm rãi, vừa đủ nghe, không vỗ tay, không làm động tác hay cử điệu.
Ví dụ: Anh em chúng ta chung một đường lên…
+ Bài hát có vỗ tay: Trong sinh hoạt, để gây bầu không khí vui tươi nhộn nhịp, Linh hoạt viên có thể đề nghị vỗ tay theo nhịp hoặc theo tiết tấu của bài hát, vỗ tay toàn bài hay chỉ vỗ câu cuối, hoặc chỉ vỗ một số từ nào đó trong câu thay vì phải hát thành lời.
Ví dụ: Tang tang tang tình tang tính…
Vỗ tay, vỗ tay, cùng nhau hát mà vui cười…
+ Bài hát có động tác: Trong sinh hoạt, Linh hoạt viên có thể sử dụng các động tác đơn giản, dứt khoát kèm theo từng câu của bài hát sinh hoạt, thường là 4 động tác (nếu là nhịp 2/4 hoặc 4/4) hoặc 3 động tác (nếu là nhịp 3/4) cứ lặp đi lặp lại, ăn với các phách mạnh và nhẹ của câu nhạc. Loại bài hát này có tác dụng gây bầu không khí sôi nổi, giúp thư giãn, tỉnh ngủ khi đã ngồi lâu.
Ví dụ: Lu lu lá lù, lù lá lu là lu la lế…
Ta hát to hát nhỏ nhò nhỏ…
+ Bài hát có vũ điệu: Loại bài dùng làm các tiết mục trình diễn của một nhóm, một đội, hay một toán bạn trẻ trên các sân khấu bỏ túi, văn nghệ quần chúng, hoặc trong các dịp đốt lửa trại. Vì mang nhiều tính nghệ thuật nên cần phải được tập luyện nhuần nhuyễn, đạt mức độ tương đối khá về nghệ thuật.
Ví dụ: Anh em ta về cùng nhau ta quây quần…
Tình bằng có cái trống cơm…
+ Bài hát có cử điệu: Loại bài hát sinh hoạt đặc biệt này cho tới nay vẫn còn ít sử dụng. Thật ra, dạng này rất dễ sáng tác, dễ lồng các cử điệu vào, lại dễ tập cho cả tập thể đứng vòng tròn hoặc ngồi hoặc đứng ngay trong lớp học. Mọi lứa tuổi đều có thể tham gia một cách hứng thú, sinh động, gây ấn tượng sâu xa nhờ ý nghĩa của lời hát được minh họa bằng các cử điệu đơn sơ gần với đời sống thường nhật.
Ví dụ: Chiều nay em đi câu cá…
II. Định nghĩa bài hát có cử điệu:
+ Cử chỉ:
Cách làm, cách minh họa, cách biểu diễn một sự vật, một sự việc hay một ý tưởng trừu tượng bằng bàn tay.
+ Dáng điệu:
Vẻ bề ngoài của khuôn mặt, của toàn thân mình ăn khớp với nhịp độ của công việc, của âm nhạc.
. Vậy, Bài hát có cử Điệu chính là một dạng bài hát ngắn có kèm theo các cử chỉ và dáng điệu đơn giản rõ nét, để diễn tả tối đa nội dung của từng câu, từng ý trong bài hát.
III. Giá trị của cử điệu:
Các cử điệu mang tính cách tế nhị, kín đáo, lại vừa phong phú về mặt biểu hiện cảm xúc của người Đông Phương (Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam…) thì các cử điệu, dẫu không dùng đến lời nói, vẫn có thể diễn đạt nhiều ý tứ sâu sắc.
Thậm chí, các cử điệu còn được ứng dụng một cách tự nhiên trong việc giáo dục nhân bản không chỉ đối với trẻ em mà cho cả người lớn trong các mối tương quan với chính mình, với tha nhân, với thiên nhiên.
Cử điệu diễn tả lòng tri ân, sự kính trọng, quan niệm sống bác ái, vui tươi lạc quan… Cử điệu giúp bày tỏ những tính cách và ước nguyện kín ẩn của nội tâm như vâng phục, khiêm tốn, hồn nhiên trong sáng…
IV. Chuẩn bị cho một bài hát có cử điệu:
Để đạt được thành công, Linh hoạt viên cần ý thức về bầu không khí, về khung cảnh, về đối tượng tham gia, về mục tiêu nhắm tới để chuẩn bị cho xứng hợp. Cần chú ý các yếu tố sau đây:
+ Về bài hát sinh hoạt:
Nên sáng tác hoặc chọn các bài hát ngắn, chân phương, 4 hoặc 8 câu, có âm vận, có ý tứ đơn giản, dễ thương, trải ra trong 16 trường canh, theo nhịp 2/4 tươi tắn khỏe mạnh hoặc nhịp ¾ duyên dáng nhẹ nhàng.
+ Về cử điệu kèm theo:
Mổi câu hát chỉ nên minh họa bằng 1 hoặc 2 cử điệu đơn giản, nhịp ăn khớp tiết tấu nhạc, thường sử dụng các ngón tay, bàn tay, cánh tay, phối hợp với động tác của chân và sự di chuyển thân mình, đồng thời hài hòa với ánh mắt và nét mặt.
+ Về tập thể tham dự:
Nên chọn hình thức vòng tròn cho sinh hoạt ngoài trời, nửa vòng tròn nếu nhắm đến một nghi thức, đôi khi phải ứng biến ngay trong lớp học.
+ Về Linh hoạt viên:
Nên hát mẫu kèm theo cử điệu mẫu một cách chậm rãi rõ ràng, tập cho tập thể, sau đó làm nháp và chính thức. Có thể cho điểm số 1 – 2 nếu cần có các cặp làm cử điệu đối xứng. Có thể giới thiệu ý nghĩa bài hát trước hoặc sau khi đã cùng làm.
V. Diễn xuất các cử điệu:
Linh hoạt viên đòi hỏi có nhiều sáng kiến, biến báo và có tâm hồn sâu sắc, giàu cảm xúc, nên có thể dễ dàng chọn, sáng tác và thể hiện các cử điệu cho đúng ý nghĩa, cân đối, duyên dáng, đạt mức nghệ thuật tối thiểu: Dưới đây là một số nguyên tắc cần lưu ý về các cử điệu.
+ Thống nhất đầu – cuối:
Nhanh hay chậm, dí dỏm hay trang trọng, sôi nổi hay dịu dàng, sao cho thích hợp với nội dung và tính cách của bài hát, tuy vậy đôi khi vẫn có thể thay đổi nhịp độ và tiết điệu để gây ấn tượng, đồng thời kết hợp các tiếng hò, tiếng hô, tiếng gọi, băng reo để tạo bầu khí sôi động.
+ Thứ tự trái – phải:
Tay trái thường làm trước tay phải, chân trái cũng bước trước chân phải, do vậy thân mình cũng quay sang trái trước rồi quay sang phải sau.
+ Đối xứng trước – sau:
Cử điệu thường sẽ được đưa lên rồi đưa xuống, đưa sang trái rồi đưa sang phải, vươn tới trước rồi lại thu về phía mình, mở rộng ra ngoài rồi lại khép vào trong.
Với 3 yếu tố căn bản nêu trên, các cử điệu cần phải liền lạc, không đứt quãng đột ngột, tất cả làm thành một chu kỳ biến diễn hài hòa, đẹp mắt mà lại có ý nghĩa.
VI. Hiệu quả của bài hát có cử điệu:
Bài hát có cử điệu thường được các Linh hoạt viên vận dụng nhằm các mục đích như sau:
+ Xáo trộn vị trí:
Một số bài hát có cử điệu sẽ khéo kéo xáo trộn chỗ của mỗi người trong vòng tròn một cách tự nhiên, không gượng ép, tránh được việc cụm lại thành các nhóm nam – nữ riêng rẽ.
+ Gây dựng bầu không khí:
Bài hát có cử điệu luôn tạo được sự vui tươi linh hoạt, làm nên tâm tình hiệp nhất trong tập thể, xóa nhòa mọi cách biệt tuổi tác, giới tính, trình độ và tâm lý bỡ ngỡ hoặc khép kín trong các dịp họp mặt, lửa trại, sinh hoạt vòng tròn ngoài trời…
+ Góp phần giáo dục:
Bài hát có cử điệu chuyển tải được nội dung giáo dục hướng thượng và vị tha một cách nhẹ nhàng mà lại thấm thía, tránh được kiểu nói nặng về huấn đức khô khan
(sưu tầm )